브레스저널 The Breath Journal

Bài viết này được dịch tự động từ bản gốc tiếng Hàn. Đọc bản gốc tiếng Hàn

Luật K-Steel có hiệu lực, nguồn vốn chuyển đổi vẫn là bài toán riêng

곽동현·Đăng 2026-06-24 13:33 KST
Dự báo nguồn cung thép thân thiện với môi trường toàn cầu 70 triệu tấn/năm, ở mức 3,5% sản lượng
Kế hoạch chuyển đổi thiết bị đã được lập, nhưng nguồn vốn đỡ cho kế hoạch này vẫn là bài toán riêng
Kế hoạch chuyển đổi thiết bị đã được lập, nhưng nguồn vốn đỡ cho kế hoạch này vẫn là bài toán riêng / ⓒ Breath Journal

'Luật đặc biệt về tăng cường năng lực cạnh tranh ngành thép và chuyển đổi trung hòa carbon' (Luật K-Steel) đã bắt đầu có hiệu lực từ ngày 17. Luật bao gồm chế độ chứng nhận thép phát thải thấp, chỉ định đặc khu, hỗ trợ tái cơ cấu kinh doanh, ngoại lệ của Luật Thương mại công bằng, còn phương án hỗ trợ giá điện công nghiệp không được đưa vào điều khoản luật. Cùng ngày, POSCO tổ chức lễ khánh thành lò điện quy mô 2,5 triệu tấn/năm tại nhà máy thép Gwangyang. Đây là quy mô lớn nhất trong nước tính theo thiết bị đơn lẻ, Thủ tướng Kim Min-seok và Chủ tịch Tập đoàn POSCO Chang In-hwa đã tham dự.

Lò điện Gwangyang được dự báo giảm phát thải carbon tối đa 75% so với lò cao. POSCO cũng đặt cùng lúc kế hoạch nắm giữ công nghệ thương mại hóa luyện thép hoàn nguyên bằng hydro (HyREX) vào năm 2030. Thiết bị đã được dựng lên, nhưng chi phí điện để vận hành thiết bị này và gánh nặng hạn ngạch phát thải vẫn là biến số của giai đoạn chuyển đổi.

Theo thống kê của Tổng hiệp hội Giới chủ Hàn Quốc, đơn giá bình quân tiền điện công nghiệp trong 3 năm từ 2022 đến 2025 đã tăng 75,8%. Chi phí điện năm 2025 của Dongkuk Steel là 296 tỷ won, gấp khoảng 5 lần lợi nhuận kinh doanh 59,4 tỷ won cùng năm, tỷ lệ vận hành năm đó là 74,9%. POSCO lâu nay đáp ứng khoảng 85% tổng lượng điện tiêu thụ bằng tự phát điện.

Điều kiện phía hạn ngạch phát thải cũng thay đổi. Trong kế hoạch phân bổ hạn ngạch phát thải quốc gia thời kỳ kế hoạch thứ 4 (2026-2030), Chính phủ đã ấn định tổng lượng phát thải khí nhà kính cho phép là 2,5373 tỷ tấn, giảm 16,8% so với trước. Tỷ lệ phân bổ có thu phí ở lĩnh vực phát điện tăng từ 10% lên 50% vào năm 2030. Theo nền tảng thông tin thị trường hạn ngạch phát thải, giá hạn ngạch kỳ hạn năm 2025 (KAU25) đã tăng từ mức 10.000 won/tấn hồi tháng 12 năm ngoái lên mức 20.000 won.

Nếu lấy báo cáo của Viện Nghiên cứu Kinh tế Năng lượng làm căn cứ, khi mở rộng phân bổ có thu phí lên 50%, gánh nặng tiền điện của ngành chế tạo tăng khoảng 2,5 nghìn tỷ won mỗi năm và phát sinh thêm chi phí 309,4 tỷ won ở ngành kim loại cơ bản, 416 tỷ won ở ngành hóa chất. Các ngành tiêu thụ nhiều năng lượng như thép, hóa dầu, xi măng được phân bổ miễn phí có phản ánh cường độ thương mại, nhưng năng lượng tập trung cung cấp nhiệt và điện cho các ngành này được xếp vào ngành phát điện nên chịu trọn ảnh hưởng của việc mở rộng phân bổ có thu phí. Trong nhiên liệu của năng lượng tập trung tại các khu công nghiệp, than chiếm khoảng 48%, tính theo quy mô thiết bị là khoảng 1,3GW. Tỷ giá won/USD cũng tăng từ mức 1.380 won hồi tháng 6/2025 lên khoảng 1.500 won, làm tăng gánh nặng đưa thiết bị vào.

Bức tranh phía cung cũng eo hẹp trên phạm vi thế giới. Hiệp hội Thép Thế giới dự báo xét theo danh mục dự án hiện nay, sản lượng thép thân thiện với môi trường đến cuối thập niên 2020 sẽ dừng ở mức khoảng 70 triệu tấn mỗi năm. So với dự báo sản lượng thép toàn cầu khoảng 2 tỷ tấn mỗi năm, đây là mức 3,5%. Khoảng một nửa các dự án thép thân thiện với môi trường đã lên kế hoạch đang bị chậm tiến độ.

Khoảng cách giữa khoản hỗ trợ được cam kết cho khử carbon ngành thép và số vốn đầu tư cần thiết
Khoảng cách giữa khoản hỗ trợ được cam kết cho khử carbon ngành thép và số vốn đầu tư cần thiết / ⓒ Breath Journal

Khoảng cách nguồn vốn còn lớn hơn. Quy mô hỗ trợ mà chính phủ các nước cam kết cho khử carbon ngành thép là 20 tỷ USD (khoảng 27,6 nghìn tỷ won), trong khi số vốn đầu tư cần thiết được ước tính là 1,5 nghìn tỷ USD (khoảng 2.070 nghìn tỷ won). Như vậy chỉ 1,3% nguồn vốn cần thiết được bảo đảm, trái ngược với việc ngành thép chiếm khoảng 7-9% lượng phát thải carbon toàn cầu. Phó Tổng thư ký Hiệp hội Thép Thế giới Xiaoliang Zhong cho biết lượng phát thải trên mỗi tấn thép hầu như không thay đổi trong 10 năm qua.

Dòng chảy mở rộng thiết bị cũng đi ngược lại. OECD dự báo chỉ tính riêng công suất lò cao mới được lên kế hoạch tại Ấn Độ và Đông Nam Á từ năm 2024 đến năm nay cũng đã tương đương quy mô của toàn bộ các dự án thép thân thiện với môi trường trên thế giới cộng lại. Lò cao một khi đã xây thì được dùng tối đa 40 năm. Tại hội nghị thường niên của ngành thép ở Singapore ngày 19 (giờ địa phương), chậm tiến độ dự án, thiếu hỗ trợ của chính phủ và nhu cầu trì trệ được nêu là những vấn đề then chốt.

Cũng có tiếng nói đòi hỏi chính sách tạo ra nhu cầu. Phó Chủ tịch Liên đoàn Công nghiệp Thép Malaysia Yeoh Choon Kui nói rằng thảo luận về thép xanh lâu nay chỉ dồn vào phía cung, và chính phủ phải áp nghĩa vụ sử dụng thép thân thiện với môi trường cho các dự án hạ tầng chính. Nhật Bản đặt mục tiêu cung cấp 10 triệu tấn thép xanh vào năm 2030, đưa 3.000 tỷ yên (khoảng 28,6 nghìn tỷ won) vào chuyển đổi năng lượng và công nghệ khử carbon ngành thép trong 10 năm tới. EU đã đưa vào 'Kế hoạch hành động thép và kim loại châu Âu' các nội dung thúc đẩy hợp đồng mua bán điện, giảm thuế năng lượng, mở rộng lưới điện, bù đắp chi phí carbon trong tiền điện của hệ thống mua bán hạn ngạch phát thải, còn Ấn Độ đưa ra lộ trình bao gồm sản xuất thép xanh và ưu đãi trong mua sắm công.

Sản lượng thép thô năm 2025 của Hàn Quốc là 62 triệu tấn, ở mức thứ 6 thế giới. Sau khi hệ thống sản xuất 70 triệu tấn sụp đổ từ năm 2022, dòng chảy giảm sút vẫn tiếp diễn. Trong nước, ngành thép đưa ra yêu cầu cần có biện pháp hỗ trợ giảm nhẹ gánh nặng tiền điện công nghiệp và việc phân biệt giá điện theo vùng dựa trên Luật Năng lượng phân tán. Viện Nghiên cứu Kinh doanh POSCO gần đây đã công bố báo cáo 'Hãy bảo vệ chủ quyền thép!: Mô hình chính sách thép toàn cầu đang thay đổi'.

Cơ chế điều chỉnh carbon biên giới (CBAM) của EU được thực thi chính thức từ năm nay. Việc mở rộng phân bổ hạn ngạch có thu phí được tiến hành theo từng bước đến năm 2030, và việc chế độ chứng nhận cùng chỉ định đặc khu của Luật K-Steel trên thực tế gắn với nguồn vốn chuyển đổi quy mô bao nhiêu sẽ lộ rõ ở các văn bản dưới luật và việc lập ngân sách. Lò điện ở Gwangyang có quy mô lớn nhất trong nước, nhưng so với dự báo nguồn cung thép thân thiện với môi trường toàn cầu thì chỉ dừng ở một mảnh.

Phóng viên Kwak Dong-hyun · Breath.Econ

Bài liên quan

댓글