
Việc dựng lại thế giới đã sụp đổ là phần việc của ai. Những câu chuyện bàn về khủng hoảng khí hậu phần lớn tập trung vào khoảnh khắc sụp đổ. Thứ mất nhiều thời gian là quãng thời gian sau khi sụp đổ. Tiểu thuyết 『Nhà kính nơi tận cùng Trái Đất』 (Giant Books, 2021) của Kim Cho-yeop nắm lấy quãng thời gian đó một cách trực diện.
Tiểu thuyết lấy bối cảnh Trái Đất sau khi thảm họa quét qua, theo dõi quá trình thực vật và con người cùng sống sót. Tác phẩm đặt ánh nhìn vào các bước phục hồi hơn là cảnh tượng hoành tráng của tai họa. Dù dùng ngữ pháp của tiểu thuyết khoa học viễn tưởng, nhiệt độ của nó không lạnh. Việc những sinh thể sống sót đã nắm lấy nhau ra sao trở thành động lực của câu chuyện.
Lý do mở lại cuốn sách này vào tháng đầu của năm mới nằm ở đó. Năm mục tiêu trung hòa carbon càng đến gần, cuộc thảo luận càng thu hẹp vào các con số cắt giảm và kế hoạch thực hiện. Việc phục hồi không vận hành chỉ bằng những giá trị ghi trong bảng biểu. Phải có người quyết định sẽ trồng gì trên vùng đất bị hủy hoại, có người tưới nước cho đến khi cây ấy bén rễ.
Điều tiểu thuyết cho thấy rõ là chất cảm của lao động đó. Phục hồi sinh thái không đến như một sự kiện chuyển biến kịch tính. Phải tích lũy những quan sát và chăm sóc lặp đi lặp lại thì mới thấy được chút tiến triển.

Việc chọn hạt giống, xem xét đất, cày xới lại những ô đất đã thất bại thì không trở thành tin tức. Cuốn sách này đặt quãng thời gian không ai nhìn thấy đó vào trung tâm của tự sự.
Hai nhánh thường gặp của tự sự khí hậu là nỗi sợ tận thế và sự lạc quan về công nghệ. Cái trước khiến con người đông cứng, cái sau đẩy vấn đề sang cho người khác. Tiểu thuyết này không dựa vào bên nào. Tác phẩm nói rằng việc phục hồi đã trở nên khả dĩ nhờ sự chăm sóc cụ thể mà những người sống sót gánh vác.
Điểm mạnh nằm ở chỗ tác phẩm đan kết trí tưởng tượng khoa học và tự sự về quan hệ mà không gượng ép. Tác giả lấy điều kiện vật chất là sinh lý và sự lan rộng của thực vật làm bộ khung cho tự sự, đồng thời đi theo tấm lòng của những người xử lý điều kiện ấy. Công nghệ không cứu rỗi con người, con người cũng không thắng công nghệ. Cả hai được đặt trên cùng một bàn làm việc.

Cũng có phần trở nên mỏng. Phần miêu tả về thể chế và sự phân bổ nguồn lực của xã hội sau thảm họa, về việc ai đã gánh chi phí phục hồi thì thưa thớt. Với độc giả tìm mô hình thực thi như khi đọc một văn bản chính sách, sự tiếc nuối vẫn còn lại. Dù có tính đến việc mục tiêu của tiểu thuyết ngay từ đầu đã không nằm ở phía đó, người tò mò về kinh tế chính trị của phục hồi vẫn cần thêm một cuốn sách khác.
Thứ mà người đã mệt mỏi với các cuộc thảo luận khí hậu nhận được từ tiểu thuyết này không phải là danh sách giải pháp. Cảm giác bất lực sinh ra từ việc chỉ nhìn vào biểu đồ phát thải và năm mục tiêu, trong lúc đọc những câu văn đi theo đất, rễ và mùa, chốc lát chuyển sang một thớ khác. Việc sức tưởng tượng về thời gian sau khi sụp đổ nối tiếp thành sức giữ cho không sụp đổ, tiểu thuyết cho thấy bằng cử động tay của các nhân vật thay cho lời giải thích.
Vậy thì sự chăm sóc của những người gánh vác việc phục hồi đã đến từ đâu. Tiểu thuyết rốt cuộc không làm rõ nguồn gốc của tấm lòng đó. Nó chỉ để lại sự thật rằng họ đã tưới nước mỗi ngày.
