브레스저널 The Breath Journal

Bài viết này được dịch tự động từ bản gốc tiếng Hàn. Đọc bản gốc tiếng Hàn

Oppenheimer, công nghệ rời khỏi tay người tạo ra sẽ trở thành gì

김범수·Đăng 2026-08-08 10:31 KST
Xem lại phim tiểu sử của Nolan vào tháng 8, đọc như đoạn giới thiệu của thời đại AI
Rạp BFI IMAX ở London. 「Oppenheimer」 được quay bằng máy quay phim nhựa IMAX 65mm
Rạp BFI IMAX ở London. 「Oppenheimer」 được quay bằng máy quay phim nhựa IMAX 65mm / Ảnh Matt Brown · CC BY 2.0

Bộ phim bắt đầu ở phòng điều trần trên màn hình đen trắng. Năm 1959, Lewis Strauss, người được đề cử làm Bộ trưởng Thương mại, ngồi đối diện các thượng nghị sĩ. Cuộc chất vấn ngược về phiên điều trần an ninh của một nhà vật lý năm năm trước, và màn hình chuyển ngay sang màu, đi tới Oppenheimer thời trẻ giữa sa mạc New Mexico.

「Oppenheimer」 đan xen hai mốc thời gian này suốt ba tiếng đồng hồ. Có lý do để lấy bộ phim này ra xem lại vào tháng 8. Hiếm có phim thương mại nào bám dai dẳng đến mức này vào hoàn cảnh người tạo ra công nghệ và người quyết định cách dùng công nghệ đó rốt cuộc không ngồi được cùng một phòng.

Đây là tác phẩm năm 2023, do Christopher Nolan viết kịch bản và đạo diễn. Phim dựa trên cuốn tiểu sử 『American Prometheus』 mà Kai Bird và Martin Sherwin xuất bản năm 2005. Cillian Murphy vào vai Oppenheimer, Robert Downey Jr. vào vai Strauss, ủy viên Ủy ban Năng lượng Nguyên tử, còn Emily Blunt, Matt Damon, Florence Pugh lấp đầy phần bên cạnh.

Giám đốc hình ảnh Hoyte van Hoytema quay bằng cách trộn phim nhựa khổ lớn IMAX 65mm và 65mm, còn phim nhựa IMAX đen trắng là loại Kodak chế tạo mới cho bộ phim này. Đây là phim đầu tiên quay cảnh IMAX bằng phim nhựa đen trắng.

Phần mở đầu lướt nhanh qua tiểu sử của nhà khoa học. Hoàn thành học vị tiến sĩ ở Göttingen những năm 1920, Oppenheimer gặp Isidor Rabi và Werner Heisenberg tại châu Âu, rồi trở về Mỹ dựng nên một cứ điểm của vật lý lượng tử ở Berkeley. Quan hệ với các học trò và đồng nghiệp là đảng viên cộng sản, và với Jean Tatlock, tích lại trong thời kỳ này. Năm 1942, Leslie Groves đưa ông về làm người phụ trách Dự án Manhattan, và phòng thí nghiệm Los Alamos mọc lên giữa sa mạc.

Rabi từ chối tham gia với lý do không muốn chế tạo vũ khí giết người hàng loạt. Giới thiệu cốt truyện đến đây là vừa. Cuộc thử nghiệm tháng 7 năm 1945 và những việc sau đó thì xem trên màn ảnh vẫn hơn.

Bộ khung của phim là màu sắc. Nolan giải thích rằng các cảnh màu là ghi chép chủ quan nhìn bằng mắt Oppenheimer, còn các cảnh đen trắng là ghi chép khách quan nhìn bằng mắt nhân vật khác. Không cần chép lại nguyên lời giải thích đó.

Thứ thực sự vận hành trên màn ảnh lại là cái khác. Đó là cảm giác thời gian của người tạo ra và thời gian của người quản lý trôi với tốc độ khác nhau.

Ở sa mạc màu, các phép tính chồng lên nhau, người ta tụ lại và một thứ gì đó dần hoàn thành. Ở phòng điều trần đen trắng, việc đã xong được mở lại bằng hồ sơ, và cùng một sự thật trở thành tội danh khác. Phiên điều trần năm 1954 hủy quyền tiếp cận mật Q của Oppenheimer với tỷ lệ 2-1, và năm 1959 Thượng viện bác việc phê chuẩn Strauss làm Bộ trưởng Thương mại. Bộ phim đặt hai phiên điều trần này đối diện nhau như tấm gương, tạo ra vòng tuần hoàn trong đó quyền lực từng phán xử nhà kỹ thuật lại bị phán xử trong chính căn phòng ấy năm năm sau.

Ở đây đáng để đi theo lô-gic mà bộ phim dựng lên. Tháng 7 năm 1943, Groves chỉ thị cấp quyền tiếp cận an ninh cho Oppenheimer không chậm trễ, bất kể mọi thông tin về ông. Vì cần quả bom. Mười năm sau, tháng 12 năm 1953, Strauss thông báo đình chỉ quyền tiếp cận đó dựa trên chính lý lịch ấy.

Vì nhà vật lý phản đối phát triển bom khinh khí không còn cần thiết nữa. Cái mà bộ phim cho thấy không phải sự vô tội hay có tội của Oppenheimer. Đó là việc độ tin cậy của một nhà kỹ thuật lên xuống theo mức quyền lực cần đến ông ta. Lô-gic này không bị nhốt lại trong thập niên 1940.

Quy định phân khoang ở Los Alamos cũng nằm trong mạch đó. Các nhà khoa học tính phần việc của riêng mình mà không biết người khác đang làm gì. Số người nhìn thấy toàn cục rất ít, và chỗ cho lương tâm của từng nhà nghiên cứu vận hành cũng hẹp đi bấy nhiêu. Dùng bom hay không được định ở phòng họp tại Washington, và với nhà khoa học, kết luận là kết quả đến sau đó.

Các tổ chức đang xây dựng mô hình trí tuệ nhân tạo cỡ lớn hiện nay cũng chia thu thập dữ liệu, huấn luyện và triển khai cho những nhóm khác nhau, và người phụ trách từng công đoạn khó biết hết công dụng cuối cùng. Khi việc tạo ra năng lực và việc quyết định cách dùng năng lực đó tách rời nhau, trách nhiệm cũng tản ra theo. Bộ phim cho thấy sự tách rời này qua một trường hợp của 80 năm trước, nhưng cái khung ấy chưa cũ.

Sức mạnh của phần dàn dựng đến từ âm thanh và nhịp điệu. Nhạc của Ludwig Göransson và dựng phim của Jennifer Lame tạo ra nhịp siết lại theo đà các phép tính tiến triển, và khán giả căng thẳng dù đã biết kết quả. Đoàn làm phim cho biết cảnh thử nghiệm Trinity được quay bằng thuốc nổ thật thay cho đồ họa máy tính.

Nhưng bản hoàn chỉnh chứa hàng trăm cảnh do khoảng 160 nhân sự hiệu ứng hình ảnh làm ra, và cảnh vụ nổ cũng dùng ghép hình kỹ thuật số. Khoảng cách giữa lời giải thích của người làm phim và sản phẩm thực tế, trớ trêu thay, lại giống chủ đề mà bộ phim bàn tới.

Nếu chỉ ra chỗ đáng tiếc thì trước hết, cuộc trò chuyện với Einstein vốn là trục của phim là cảnh thực tế không có. Người mà Oppenheimer bàn về khả năng phản ứng dây chuyền đốt cháy bầu khí quyển là Karl Compton ở MIT. Nolan đặt cuộc trò chuyện hư cấu này ở đầu và cuối phim, rồi để câu thoại cuối cùng đưa ra kết luận. Đó là việc một phim tiểu sử giao khoảnh khắc quan trọng nhất cho một cảnh được bịa ra, và lựa chọn này đánh đổi sức mạnh của sự thật để lấy sức thuyết phục của phim.

Thứ hai, Hiroshima và Nagasaki không có trên màn ảnh. Nolan chọn cách chỉ cho thấy những gì nhân vật chính trải qua, và kết quả là thời gian của phía chịu thiệt hại nằm lại bên ngoài bộ phim. Hiraoka Takashi, người từng làm thị trưởng Hiroshima, nói rằng nỗi khiếp sợ vũ khí hạt nhân đã không được khắc họa đầy đủ.

Ngày bộ phim ra rạp ở Hàn Quốc là 15 tháng 8 năm 2023 và có 3,23 triệu người xem. Với khán giả xem bộ phim này vào ngày Quang phục, không cần giải thích khoảng trống đó nằm ở đâu.

Có thứ trông khác đi khi xem lại lúc này. Ngày 16 tháng 12 năm 2022, bảy tháng trước khi phim ra mắt, Bộ trưởng Năng lượng Mỹ Jennifer Granholm đã vô hiệu hóa quyết định thu hồi quyền tiếp cận năm 1954. Lý do là đó là một thủ tục có khiếm khuyết, trong đó ủy ban đã vi phạm chính quy định của mình.

Vào thời điểm ra rạp, bộ phim được đọc như bi kịch của một nhà khoa học bị vu oan. Xem sau khi danh dự được phục hồi, cái mà các cảnh điều trần chỉ tới chuyển từ nỗi oan của cá nhân sang tập tính của thể chế. Tập tính che đi mối nghi ngờ khi còn cần và rút chính mối nghi ngờ đó ra khi hết giá trị sử dụng vẫn không biến mất, kể cả sau khi quyết định được đính chính sau 68 năm.

Bộ phim nhận 7 hạng mục gồm Phim hay nhất, Đạo diễn xuất sắc, Nam diễn viên chính xuất sắc tại giải Viện Hàn lâm Anh tháng 2 năm 2024, và mang về Phim hay nhất, Đạo diễn xuất sắc, Nam diễn viên chính xuất sắc, Nam diễn viên phụ xuất sắc, Quay phim, Dựng phim, Nhạc phim tại giải Oscar lần thứ 96. Doanh thu phòng vé toàn cầu vượt 980 triệu đô la, đứng thứ ba trong số các phim ra rạp năm 2023.

Dời mắt ra ngoài màn ảnh thì còn lại sa mạc New Mexico. Khi bộ phim thu hút sự chú ý trở lại vào bãi thử Trinity, vấn đề của cư dân lân cận và công nhân mỏ uranium, những người hứng bụi phóng xạ từ vụ thử mà vẫn bị bỏ ngoài diện bồi thường, được đưa lên Quốc hội Mỹ. Đó là cuộc thảo luận về việc mở rộng Đạo luật bồi thường phơi nhiễm phóng xạ năm 1990, và Nghị viện bang New Mexico cũng ra nghị quyết ủng hộ việc này.

Những người mà bộ phim rốt cuộc không soi tới đã vượt qua một ngưỡng cửa nhờ chính bộ phim. Nơi mà công nghệ rời khỏi tay Oppenheimer chạm tới sau 80 năm không phải phòng điều trần hay lễ trao giải, mà là sa mạc ấy.

Phóng viên Kim Beom-su · Breath.Culture

Bài liên quan

댓글