브레스저널 The Breath Journal

Bài viết này được dịch tự động từ bản gốc tiếng Hàn. Đọc bản gốc tiếng Hàn

Mắc võng vào cây thì cây sẽ đau

편집부·Đăng 2026-06-06 11:50 KST
Bác sĩ Albert Schweitzer ở Lambaréné nói về lòng tôn kính sự sống và y tế vùng xa
Albert Schweitzer (1875-1965)
Albert Schweitzer (1875-1965) / Minh họa ⓒ Breath Journal

Năm 1913, vị bác sĩ ba mươi tám tuổi đặt chân đến Lambaréné, ngôi làng ven sông ở Gabon, đã không dựng được tòa nhà bệnh viện mới. Ông sửa lại chuồng gà mà nhà truyền giáo từng dùng để làm phòng khám. Nucheng, một hộ lý người da đen thạo tiếng Anh và tiếng Pháp, chuyển giúp lời của bệnh nhân. Người từng nhận bằng tiến sĩ triết học và tiến sĩ thần học ở châu Âu, từng có tiếng là nghệ sĩ đàn organ, đã cầm ống nghe giữa hơi ẩm nhiệt đới.

Albert Schweitzer sinh năm 1875 tại Kaysersberg vùng Alsace, là con trai một mục sư Luther, và qua đời năm 1965. Năm 1899 ông nhận bằng tiến sĩ triết học tại Đại học Strasbourg với công trình nghiên cứu về Kant, năm sau nhận bằng tiến sĩ thần học với nghiên cứu về Chúa Giêsu, rồi làm mục sư và giảng viên khoa thần học. Năm 1905, khi ba mươi tuổi, ông vào chương trình y khoa, và năm 1913 cùng vợ là Helene Bresslau lên đường sang châu Phi. Ông tự lực duy trì bệnh viện bằng việc viết sách, diễn thuyết, chơi đàn organ và nguồn thu từ đĩa hát, và nhận giải Nobel Hòa bình năm 1952.

Q1. Năm hai mươi mốt tuổi, ông đã định sẽ sống trong học vấn và nghệ thuật cho đến năm ba mươi tuổi, sau đó bước vào con đường phụng sự. Phải chín năm ông mới đưa quyết định ấy vào thực tế, điều gì đã giúp ông chịu đựng quãng thời gian đó?

Bản thân quyết định thì ngắn ngủi. Trong thời gian quân ngũ, khi về nhà nghỉ lễ Hiện Xuống, tôi chợt nghĩ mình có được phép hạnh phúc một mình như thế này không. Từ nhỏ tôi lớn lên trong một nhà thờ mà phần lớn giáo hữu là những nông dân nghèo, và cha tôi thường giảng về cuộc sống khốn khổ của người châu Phi trong các buổi lễ Tiệc Thánh. Chỉ là cảm xúc ấy cần thời gian để đông lại thành quyết định của một người trưởng thành.

Năm 1905 tôi vào chương trình y khoa. Việc trở lại làm sinh viên ở tuổi ba mươi có phần buồn cười. Một giảng viên khoa thần học lại đứng trong phòng thực hành giải phẫu nên các đồng nghiệp không hiểu nổi. Nhưng việc giảng giải về tình yêu thương trên bục giảng và việc sờ nắn bụng một người đang lên cơn sốt đều cần thiết như nhau.

Q2. Bệnh viện đầu tiên ở Lambaréné là tòa nhà sửa lại từ chuồng gà. Việc bệnh viện lớn dần sau đó bắt đầu từ nhu cầu nào?

Vì bệnh nhân đã đến. Không phải là có sẵn một bản kế hoạch. Tôi không thể trả về những người mất mấy ngày xuôi sông mới được chở tới, nên đã tăng thêm giường bệnh. Cứ tiếp nhận những người không còn nơi nào để đi, thế là nhà cửa nhiều thêm.

Đó là bệnh viện mang tên tôi, nhưng không phải việc tôi làm một mình. Có các nhân viên y tế từ châu Âu và những nhân viên bản địa mà tên tuổi ít khi được ghi vào hồ sơ. Nếu không có Nucheng, người đã phiên dịch, thì năm đầu tiên tôi đến cả triệu chứng của bệnh nhân cũng không nghe hiểu được.

Chi phí vận hành thì tôi trở về châu Âu mở các buổi hòa nhạc để kiếm. Tôi chơi nhạc Bach và mua thuốc bằng số tiền đó. Năm 1924 quay lại thì bệnh viện chỉ còn trơ khung, nhưng những người châu Âu vốn cũng khó khăn vì công cuộc tái thiết sau chiến tranh đã gửi tiền ủng hộ nên tôi dựng lại được.

Albert Schweitzer tại Lambaréné năm 1964
Albert Schweitzer tại Lambaréné năm 1964 / Ảnh Gert Chesi · CC BY-SA 4.0

Q3. Đã có phê phán rằng trình độ y tế ở Lambaréné bị đánh giá quá cao. Cũng có ý kiến cho rằng đó chỉ là một nhà truyền giáo giương cao chủ nghĩa nhân đạo. Ông tiếp nhận lời chỉ trích đó thế nào?

Về lời nói liên quan đến trình độ khám chữa bệnh, tôi sẽ không phủ nhận. Vật tư và thuốc men luôn thiếu, có những năm nguồn tiếp tế bị cắt đứt do dư chấn của đại chiến. So với những bệnh viện được trang bị đầy đủ ở châu Âu thì hẳn là tồi tàn. Nhưng khác biệt giữa việc không có bệnh viện nào và việc có một bệnh viện tồi tàn là không nhỏ đối với bệnh nhân.

Lời phê phán rằng đó là tham vọng tôn giáo thì tôi thấy hơi oan. Nếu muốn được kính trọng thì ở lại bục giảng tại châu Âu dễ hơn nhiều. Tôi đã không ép buộc ai theo Kitô giáo. Hồi nhỏ tôi thấy một thương nhân Do Thái ở gần nhà bị sỉ nhục mà vẫn không ghét bỏ ai, và khi đó tôi học được rằng chỉ có tha thứ mới là con đường vượt qua xung đột.

Q4. Năm 1916 mẹ ông qua đời vì bị ngựa chiến của lính Pháp giẫm phải, và năm 1917 chính ông bị giam trong trại tù binh. Ông đã đi qua thời kỳ đó thế nào?

Alsace là vùng đất mà Đức và Pháp thay nhau chiếm giữ. Tôi sinh ra ở Đức nhưng bị giam giữ với lý do quê nhà từng là lãnh thổ Pháp. Trong thời gian tôi ở trại giam, các bệnh nhân ở Lambaréné không được khám chữa.

Cái chết của mẹ tôi là vết thương sâu nhất mà chiến tranh gây ra cho tôi. Con ngựa được nuôi để giết người đã giết một con người. Khi đó tôi hiểu bằng chính thân thể mình rằng con người làm gì với con người.

Không có gì đáng gọi là hồi phục. Chỉ là năm 1924 tôi lại lên tàu. Thầy Wehmann, người dạy tôi cách học hồi ở Mulhouse, đã suy sụp vì đói khát và bệnh tâm thần trong đại chiến rồi tự kết liễu đời mình. Nghĩ đến thầy, nơi tôi có thể quay về chỉ có Lambaréné.

Q5. Nghe nói ông từng bảo mắc võng vào cây thì cây sẽ đau? Có lý do nào khiến lòng tôn kính sự sống thể hiện qua những hành động nhỏ như vậy không?

Nếu bắt đầu từ những điều lớn thì con người nhất định sẽ tạo ra ngoại lệ. Sẽ có một danh sách những sinh mệnh có thể bị hy sinh, và danh sách đó luôn dài thêm. Tôi cho rằng không có sinh mệnh nào được phép hy sinh.

Cảnh chia tay Schweitzer tại Lambaréné
Cảnh chia tay Schweitzer tại Lambaréné / Ảnh Freyer, Jörg · CC BY-SA 4.0

Vào một ngày nóng, tôi đã nói với người định mắc võng giữa hai thân cây rằng cây sẽ đau. Hẳn nghe thì lạ, nhưng bàn tay không tùy tiện bẻ một cành cây thì cũng không tùy tiện đối xử với thân thể con người.

Q6. Breath Journal viết về hơi thở và sự nghỉ ngơi. Chất lượng không khí cũng như thời gian để hồi phục đều được trao cho mỗi người một khác. Từ kinh nghiệm tiếp nhận những bệnh nhân đi mấy ngày đường sông, bây giờ ông nhìn thấy điều gì?

Người mất ba ngày mới tới được bệnh viện của tôi và người mất nửa ngày, dù cùng một bệnh, vẫn nhận kết quả khác nhau. Khoảng cách tự nó là một căn bệnh. Ngày nay cũng vậy, có người khi khó thở thì được thở oxy trong vòng một giờ, có người thì không. Trước khi bàn về trình độ của bệnh viện, phải xem ai có thể chạm tới cánh cửa đó.

Sự nghỉ ngơi cũng vậy. Tôi sang châu Âu biểu diễn rồi quay về, nhưng các nhân viên bản địa của bệnh viện không có những chuyến đi về như thế. Nếu thời gian để hồi phục chỉ được trao cho một số người thì đó là đặc quyền.

Q7. Ông muốn gửi điều gì đến những người trẻ hôm nay?

Tôi sẽ không nói rằng đừng đi tìm những nơi thoải mái. Mỗi người có hoàn cảnh riêng. Tôi tin rằng lịch sử chuyển động khi có người thật sự nổi giận lúc thấy sự sống bị xem nhẹ.

Ngoài cửa sổ ở Lambaréné bao giờ cũng là dòng sông, và trong phòng khám luôn có bệnh nhân chờ. Mỗi khi nghe Bach trong căn phòng ấy, tôi lại nhớ đến phòng khám đầu tiên sửa từ chuồng gà. Mái thì thấp nhưng cửa thì luôn mở. Mong bạn hãy bắt đầu bằng việc xác định điều nhỏ bé mà hôm nay bạn gìn giữ là gì.

Bài viết này không phải là một cuộc đối thoại có thật. Đây là bài phỏng vấn giả định do Breath Journal tái dựng dựa trên cuộc đời, trước tác và các ghi chép còn lại của Albert Schweitzer. Câu hỏi do phóng viên đặt ra và câu trả lời được rút ra từ những trang viết và hành trạng ông để lại.

Ban biên tập · Breath.Social

Bài liên quan

댓글