브레스저널 The Breath Journal

Bài viết này được dịch tự động từ bản gốc tiếng Hàn. Đọc bản gốc tiếng Hàn

Điện hóa một tổ hợp NCC cần 8TWh, tương đương công suất một lò phản ứng hạt nhân

곽동현·Đăng 2026-04-14 16:15 KST
Điều kiện về điện và giá điện của quá trình điện hóa ngành hóa dầu được nêu ra tại tọa đàm ở Quốc hội
Lượng điện mà một tổ hợp thiết bị điện hóa đòi hỏi lên tới quy mô một lò phản ứng hạt nhân cỡ lớn
Lượng điện mà một tổ hợp thiết bị điện hóa đòi hỏi lên tới quy mô một lò phản ứng hạt nhân cỡ lớn / ⓒ Breath Journal

Để vận hành bằng điện một cơ sở phân tách naphtha (NCC) quy mô 1 triệu tấn ethylene cần khoảng 8TWh. Đây là con số do ông Jang Yong-hee, Trưởng nhóm Xúc tiến giảm carbon của LG Chem, đưa ra tại tọa đàm tổ chức ở Quốc hội ngày 10 vừa qua. Ông giải thích quy mô này là điều kiện phải cung cấp không gián đoạn 24 giờ mỗi ngày lượng điện tương đương một lò phản ứng hạt nhân cỡ lớn (khoảng 1GW). Điều đó có nghĩa là công nghệ được nhắc đến như một lộ trình khử carbon phụ thuộc vào điều kiện tiên quyết là lấy điện từ đâu.

Tọa đàm do các nghị sĩ Oh Se-hee và Lee Yong-woo thuộc đảng Dân chủ Đồng hành đồng tổ chức và Solutions for Our Climate chủ trì. Chủ đề là những cơ hội và nhiệm vụ chính sách nào đang đặt ra đối với quá trình chuyển đổi điện hóa khử carbon của ngành hóa dầu. Đây là tọa đàm trải ra từng khoản chi phí cho việc điện hóa trong bối cảnh các thảo luận về tái cơ cấu ngành hóa dầu đang diễn ra.

NCC là công đoạn nâng naphtha lên 850-900 độ để phân tách. Từ đây cho ra các nguyên liệu cơ bản như ethylene, propylene, butadiene. Nguồn nhiệt có được từ việc đốt khí phụ phẩm như methane và một phần hydro. NCC điện hóa (e-cracker) là công nghệ thay nguồn nhiệt đốt này bằng điện để giảm phát thải trực tiếp của công đoạn (Scope 1).

Ước tính chi phí cũng được đưa ra cùng lúc. Solutions for Our Climate ước tính chi phí lũy kế cho việc chuyển đổi điện hóa các NCC tại các khu tổ hợp Yeosu, Daesan, Ulsan từ năm 2025 đến năm 2050 là khoảng 91 nghìn tỷ won. Trong cùng ước tính này, nhu cầu điện tăng thêm do điện hóa là khoảng 91,4TWh. Con số này là mức tăng của giai đoạn 2025-2050 hay là lượng cần dùng hằng năm thì được diễn giải khác nhau tùy theo tài liệu công bố.

Có ý kiến chỉ ra rằng hiệu quả giảm phát thải phụ thuộc vào tình trạng lưới điện. Ông Jang cho biết lượng phát thải từ việc đốt khí phụ phẩm là khoảng 1,35 triệu tấn, nhưng nếu áp dụng nguyên hệ số phát thải của lưới điện hiện nay để lấy 8TWh thì có thể phát sinh khoảng 3,6 triệu tấn. Nếu chỉ đổi nguồn nhiệt sang điện trong khi cơ cấu nguồn điện không thay đổi thì lượng phát thải lại tăng lên.

Giá điện cũng được nêu là trở ngại. Khí phụ phẩm trên thực tế là nhiên liệu chi phí thấp phát sinh từ công đoạn. Ông Jang nói rằng để giữ được sức cạnh tranh của ngành thì đơn giá điện phải giảm xuống mức tương đương khí phụ phẩm, hoặc phải có các bổ sung về mặt thể chế như giá carbon, ưu đãi.

Tỷ trọng của công đoạn NCC trong tổng phát thải của ngành hóa dầu vượt quá một nửa. Nhà nghiên cứu Kim A-young của Solutions for Our Climate đưa ra tỷ trọng này là 70%. Bản thân ngành hóa dầu, tính đến năm 2024, chiếm khoảng 7,7% phát thải khí nhà kính quốc gia và 18,7% lượng phát thải của khu vực công nghiệp. Nhà nghiên cứu Kim nêu tỷ phần của ngành hóa dầu trong nước trong tổng kim ngạch xuất khẩu quốc gia là 7,2% và chỉ ra sự cần thiết phải đặt việc giảm phát thải và duy trì ngành cùng với nhau.

Phía chính sách cũng có động thái. Bộ trưởng Bộ Khí hậu, Năng lượng và Môi trường Kim Sung-hwan, khi trình 'Kế hoạch xúc tiến chuyển đổi lớn về năng lượng của Chính phủ chủ quyền nhân dân' lên phiên họp Quốc vụ do Tổng thống Lee Jae-myung chủ trì ngày 6 vừa qua, đã đưa việc áp dụng NCC điện và cải thiện hiệu suất công đoạn cùng với luyện thép hoàn nguyên bằng hydro vào chiến lược khử carbon khu vực công nghiệp. Chính phủ bố trí tổng cộng 924,1 tỷ won cho việc ổn định chuỗi cung ứng dầu mỏ và tài nguyên chiến lược trọng yếu trong đợt ngân sách bổ sung lần này và xúc tiến hỗ trợ ổn định cung cầu naphtha. Nhà nghiên cứu Kim giải thích rằng Luật Đặc biệt về hóa dầu đã có cơ sở thể chế để hỗ trợ các công nghệ chuyển đổi lấy điện hóa làm trọng tâm.

Tại tọa đàm đã có đề xuất điện hóa từng bước các công đoạn, tập trung vào các khu tổ hợp Yeosu, Ulsan, Daesan. Khả năng hạ chi phí mua điện bằng cách mở rộng năng lượng tái tạo và sử dụng chế độ đặc khu năng lượng phân tán cũng được nhắc đến. Các ý kiến thống nhất rằng việc mở rộng hạ tầng điện, cải tổ hệ thống giá điện công nghiệp, hỗ trợ trình diễn và nghiên cứu phát triển phải đi cùng nhau. Cũng có yêu cầu phải thiết kế chính sách sao cho gánh nặng chuyển đổi không dồn về phía các doanh nghiệp vừa và nhỏ cùng các nhà thầu hợp tác.

Áp lực bên ngoài đan xen theo nhiều hướng. Tình trạng dư cung từ Trung Quốc, việc siết chặt quy định của các nước lớn bao gồm Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM) của EU, biến động chuỗi cung ứng dầu thô và naphtha theo tình hình Trung Đông cùng tác động một lúc. Những điều kiện bên ngoài này đã khiến điện hóa trở thành đối tượng thảo luận, và tính khả thi được quyết định ở chỗ mua được điện với giá bao nhiêu cho mỗi kWh. Tùy theo cách hệ thống giá điện và lịch trình tăng cường lưới điện được đưa ra, tính chất của con số ước tính 91 nghìn tỷ won cũng thay đổi.

Phóng viên Kwak Dong-hyun · Breath.Econ

Bài liên quan

댓글