
Giá trong nước của quyền phát thải 1 tấn khí carbonic vào năm 2019 ở mức khoảng 40.000 won. Giá đó gần đây đã rơi xuống mức hơn 10.000 won. Chi phí xã hội của carbon mà giới học thuật ước tính được nhắc tới ở mức 190 USD một tấn. Vào lúc chiến lược chi tiết của chuyển đổi xanh kiểu Hàn Quốc mà chính phủ đang chuẩn bị, gọi là K-GX, được hoàn thiện với mục tiêu công bố trong tháng 6, việc thu hẹp khoảng cách này ra sao sẽ quyết định sức thuyết phục của toàn bộ chiến lược.
K-GX là chiến lược tổng hợp nhằm thực hiện trên thực tế Mục tiêu giảm phát thải khí nhà kính quốc gia 2035 và trung hòa carbon 2050. Mục tiêu giảm phát thải năm 2035 đã được xây dựng vào tháng 11 năm ngoái, và công việc chuyển mục tiêu đó thành lộ trình theo từng năm, từng lĩnh vực cùng các biện pháp hỗ trợ chính là K-GX. Chiến lược bao quát cả năng lượng, công nghiệp, giao thông và tòa nhà, từ mở rộng năng lượng tái tạo và đổi mới lưới điện, chuyển đổi quy trình của các ngành công nghiệp chủ lực, phổ cập xe điện và xe hydro, cho tới khử carbon trong năng lượng nhiệt. Cũng có giải thích ấn định thời điểm công bố trong nửa đầu năm, nên chính xác hơn là xem lịch trình chi tiết đang ở giai đoạn trước khi chốt.
"Diễn đàn quốc tế Net Zero Intelligence" tổ chức ngày 27 vừa qua tại Phòng Thương mại và Công nghiệp Hàn Quốc, quận Jung, Seoul, là nơi thảo luận trước những nguyên tắc thiết kế đó. Tại sự kiện do Trường Sau đại học Tăng trưởng xanh và Phát triển bền vững KAIST tổ chức trong ngày, các nội dung được đề cập lần lượt gồm hiện trạng thúc đẩy GX của Hàn Quốc và Nhật Bản, ổn định hệ thống mua bán hạn ngạch phát thải (ETS), nâng cao độ tin cậy của thị trường carbon tự nguyện (VCM), huy động tài chính chuyển đổi và thiết kế quản trị. Chủ đề là thách thức của công nghệ và thị trường cho cuộc đại chuyển đổi xanh, và đổi mới.
Giáo sư Eom Ji-yong của KAIST, người phát biểu khai mạc, cảnh báo cách nhìn chỉ gói K-GX trong phạm trù chính sách khí hậu. Ý của ông là phải xem đây là chiến lược công nghiệp và là dự án thiết kế lại năng lực cạnh tranh quốc gia, và vì thế thiết kế chính sách dựa trên bằng chứng phải đi kèm. Trên thực tế, trong chuỗi cung ứng toàn cầu, thông qua RE100 và Cơ chế điều chỉnh carbon tại biên giới của Liên minh châu Âu (CBAM), việc có phải sản phẩm phát thải thấp hay không, có dùng năng lượng sạch hay không đang vận hành như điều kiện để giao dịch thành công.
Giáo sư Joseph Aldy của Trường Kennedy, Đại học Harvard (Mỹ), người đảm nhận bài giảng chính, nêu ba trụ cột vận hành cuộc đại chuyển đổi xanh là chế độ định giá carbon, VCM và chính sách công nghiệp xanh. Ông đánh giá ETS của Hàn Quốc đang bao quát các lĩnh vực chính gồm phát điện và công nghiệp, xa hơn là một phần đáng kể lượng phát thải của toàn nền kinh tế. Ông chỉ ra trở ngại lớn nhất đứng từ phía nhà đầu tư chính là biên độ lên xuống của giá carbon.
Phương thuốc của giáo sư Aldy nghiêng về hướng tách riêng mục tiêu tổng lượng và việc quản lý giá. Tức là điều chỉnh nguồn cung hạn ngạch phát thải nhưng theo quy tắc để có thể dự đoán được, và đưa sẵn những cơ chế như giá sàn vào trong chế độ. Ngược lại, ông nhận định nếu biên độ can thiệp tùy ý theo từng lúc của chính phủ mở rộng thì niềm tin của thị trường sẽ bị bào mòn. Việc cải tổ chế độ liên quan đến giá như vậy có được đưa vào K-GX hay không thì phải có phương án chi tiết mới xác nhận được.
Công tác chuẩn bị phía chính phủ cũng đang tiến hành. Phó trưởng ban K-GX Kim Byung-hoon cho biết ý tưởng vận hành quy chế và hỗ trợ theo dạng nhất thể, không tách rời. Phòng Chính sách chuyển đổi xanh, Bộ Khí hậu, Năng lượng và Môi trường (trưởng phòng Yeom Jung-seop) một mặt chuẩn bị xây dựng luật hỗ trợ việc giảm phát thải của các ngành phát thải lớn, mặt khác cũng đảm nhận việc lập và vận hành hệ thống phân loại phân định hoạt động kinh tế nào xanh đến mức nào. Cùng với đó là hỗ trợ chế độ tài chính xanh và tài chính chuyển đổi, hỗ trợ doanh nghiệp chuẩn bị công bố ESG và khí hậu, hỗ trợ chính quyền địa phương xây dựng đô thị trung hòa carbon.
Cách thức hỗ trợ cũng thay đổi. Một hệ thống đang được chuẩn bị, theo đó điều kiện hỗ trợ tài chính khác nhau tùy theo có phù hợp với hệ thống phân loại xanh hay không, và biên độ hỗ trợ ở các khâu nghiên cứu phát triển, sản xuất, mua sắm được phân biệt theo thành quả giảm phát thải. Các biến số quyết định thành bại được nhắc đến gồm tính độc lập của tổ chức thực thi, sự ổn định ngân sách, và thiết kế thị trường. Cũng có ý kiến chỉ ra rằng chính phủ phải mở ra nhu cầu ban đầu thì vốn tư nhân mới đi theo.
Chỗ doanh nghiệp có thể bắt tay vào lúc này là hệ thống phân loại. Nếu đối chiếu trước xem kế hoạch thay thế thiết bị và cải thiện quy trình của công ty mình rơi vào ô nào của hệ thống phân loại xanh, thì khi điều kiện hỗ trợ được công bố vào tháng 6 có thể giảm bớt việc phải viết lại hồ sơ từ đầu. Trải qua quãng thời gian hơn 4 năm giá hạn ngạch phát thải đi xuống từ 40.000 won tới mức hơn 10.000 won, bài học rằng bên trì hoãn đầu tư giảm phát thải không chịu thiệt đã tích lại trong thị trường. Có thể tạo ra quy tắc lật ngược bài học đó hay không là điều phải kiểm chứng ở tài liệu tháng 6.
