브레스저널 The Breath Journal

Bài viết này được dịch tự động từ bản gốc tiếng Hàn. Đọc bản gốc tiếng Hàn

Ngày giành được lá phiếu mới là ngày bắt đầu

편집부·Đăng 2026-03-06 11:50 KST
Ichikawa Fusae, 60 năm đi lại giữa phong trào đòi quyền tham chính và nghị trường
Ichikawa Fusae (1893-1981)
Ichikawa Fusae (1893-1981) / Minh họa ⓒ Breath Journal

Năm 1917, một phụ nữ 24 tuổi trở về Aichi đã mở cửa bước vào tòa soạn một tờ báo ở Nagoya. Đó là nữ phóng viên đầu tiên của tờ báo ấy. Mấy năm sau, vào năm 1920, bà cùng Hiratsuka Raichō lập ra Hiệp hội Tân Phụ nữ. Đó là tổ chức đặt mục tiêu sửa đổi đạo luật ngăn cản phụ nữ tham gia chính trị, và chính vì đạo luật đó mà các hội viên không thể mở nổi một cuộc họp của chính tổ chức mình.

Ichikawa Fusae (1893-1981) sinh tại thành phố Bisai, tỉnh Aichi. Bà theo học trường sư phạm nữ Aichi và mơ trở thành giáo viên tiểu học, nhưng khi chuyển lên Tokyo vào thập niên 1910 thì bà gặp phong trào phụ nữ. Năm 1924, bà từ Mỹ trở về và lập Liên đoàn Cử tri Phụ nữ Nhật Bản, đến năm 1930 thì mở đại hội toàn quốc đầu tiên với chủ đề quyền bầu cử của phụ nữ.

Tháng 11 năm 1945, phụ nữ được trao quyền tham chính đầy đủ, và năm 1953 bà được bầu vào Thượng viện tại Tokyo. Năm 1974 bà nhận Giải Magsaysay hạng mục dân chủ, và trong cuộc bầu cử Thượng viện năm 1980 bà lại trúng cử với số phiếu cao nhất khu vực toàn quốc.

Q1. Khi bà lập Hiệp hội Tân Phụ nữ năm 1920, các hội viên không thể mở hội họp chính trị. Vì vậy bà đã nghĩ ra hình thức "hội nghị diễn thuyết"?

Luật pháp ngăn cấm phụ nữ lập hội và hội họp chính trị. Việc tụ họp lại để đòi sửa chính đạo luật đó cũng vướng vào đạo luật đó. Đó là chuyện buồn cười, nhưng chúng tôi không ở vào cảnh có thể cười.

Vì thế chúng tôi đặt tên là hội nghị diễn thuyết. Thay vì mở hội họp chính trị, chúng tôi lấy hình thức một buổi học tập. Tìm ra được một hình thức thì trong hình thức đó sẽ có được một phần lời để nói. Năm 1922, Đế quốc Nghị hội sửa điều khoản ấy, và hiệp hội đã đạt mục đích nên giải thể.

Q2. Năm 1924 bà đã tìm gặp Alice Paul ở Mỹ, khi trở về bà làm việc tại văn phòng Tokyo của Tổ chức Lao động Quốc tế và lập Liên đoàn Cử tri Phụ nữ Nhật Bản. Trong những gì bà thấy ở Mỹ, bà đã mang về điều gì?

Tôi thấy rằng phong trào cũng có kỹ thuật tổ chức. Người có tấm lòng nhiệt thành thì ở đâu cũng có. Nếu không chuyển sức nóng ấy thành danh sách hội viên, hội phí và biên bản họp thì qua một thế hệ nó sẽ tan đi.

Liên đoàn Cử tri Phụ nữ Nhật Bản mà tôi lập sau khi về nước là tổ chức đầu tiên ở Nhật đòi quyền tham chính cho phụ nữ. Năm 1930 chúng tôi mở đại hội toàn quốc. So với việc tập hợp được người, việc làm sao để năm sau những người đó lại tụ họp về khó hơn. Làm việc ở một văn phòng lo các vấn đề lao động mà lại nói chuyện lá phiếu của phụ nữ, với tôi đó cũng là một công việc.

Ngày 4 tháng 2 năm 1931, đại diện các đoàn thể công dân đến gặp Bộ trưởng Nội vụ Andō Kenzō để yêu cầu sửa đổi dự luật quyền công dân của phụ nữ, người thứ hai từ bên trái là Ichikawa Fusae
Ngày 4 tháng 2 năm 1931, đại diện các đoàn thể công dân đến gặp Bộ trưởng Nội vụ Andō Kenzō để yêu cầu sửa đổi dự luật quyền công dân của phụ nữ, người thứ hai từ bên trái là Ichikawa Fusae / Ảnh không rõ tác giả · Phạm vi công cộng

Q3. Trong chiến tranh bà giữ chức tổng vụ của Hội Trung ương Tổng động viên Tinh thần Quốc dân, và cũng từng là ủy viên Hiệp hội Phụ nữ Đại Nhật Bản. Sau chiến tranh, nhà chức trách chiếm đóng lấy lý lịch đó làm lý do loại bà khỏi các chức vụ công. Bà đã đón nhận quyết định ấy như thế nào?

Tên tôi có trong danh sách đó là sự thật. Đó là tổ chức do chính phủ lập ra để mở rộng sự ủng hộ của quần chúng đối với chiến tranh, và tôi là tổng vụ của tổ chức đó. Tôi đã nghĩ rằng nếu đoàn thể phụ nữ bắt tay với nhà nước thì tiếng nói của phụ nữ sẽ tăng lên. Cái tăng lên là đường dẫn của sự động viên.

Cho đến khi chế độ chiếm đóng kết thúc, tôi đứng xa chính trị và các cơ quan chính phủ. Tôi không có ý nói mình oan ức. Tôi vẫn chủ trương rằng nếu phụ nữ có quyền lực chính trị thì đã không đi tới một cuộc chiến tranh có sức tàn phá đến thế. Việc người nêu chủ trương ấy lại lo việc hành chính cho một tổ chức chống đỡ cho chiến tranh là sự thật mà chính tay tôi không xóa được.

Q4. Năm 1971 bà thất bại trong lần tái tranh cử vào Thượng viện và rút lui, đến năm 1974, ở tuổi 81, bà lại được đề nghị ra tranh cử. Ba năm đó bà đã sống ra sao?

Ngày hôm sau khi rớt, những việc tôi vẫn làm vẫn còn nguyên đó. Các hội nghị phụ nữ vẫn tiếp tục được mở ở trong nước và ngoài nước, và tôi đến đó với phần của một người có tuổi. Lúc ấy tôi học được bằng thân mình rằng có những việc phải có ghế trong nghị viện mới làm được và có những việc không có ghế vẫn làm được.

Khi nghe nói năm 1974 hãy ra tranh cử lần nữa, tôi đã do dự. Tôi tự hỏi một người ngoài tám mươi làm vậy có phải là chặn đường của người trẻ hay không. Dù vậy tôi vẫn ra và giành được nhiệm kỳ thứ tư. Giải thưởng nhận được cùng năm đó, so với là của tôi thì đúng hơn là của những người đã cùng đi với tôi cho đến khi ấy.

Q5. Năm 1933 bà lập Hội Phụ nữ Thanh lọc Chính giới Tokyo, và trở thành một trong năm nữ ủy viên của Hội Trung ương Thanh lọc Bầu cử thuộc chính phủ. Vì sao một nhà hoạt động đòi quyền tham chính lại bám lấy vấn đề tham nhũng bầu cử lâu đến thế?

Có được lá phiếu và lá phiếu được đếm cho đúng là hai việc khác nhau. Trong một cuộc bầu cử có tiền bạc đi lại, phụ nữ có giành được một lá phiếu thì lá phiếu đó cũng thành món hàng đã bị định giá. Tôi coi mặt sau của phong trào đòi quyền tham chính là việc làm sạch bầu cử.

Ichikawa Fusae đứng trên bục tại Đại hội Toàn Nhật Bản về quyền bầu cử của phụ nữ lần thứ 7, tổ chức ngày 24 tháng 1 năm 1937 tại Hội quán Kyōchō trong công viên Shiba
Ichikawa Fusae đứng trên bục tại Đại hội Toàn Nhật Bản về quyền bầu cử của phụ nữ lần thứ 7, tổ chức ngày 24 tháng 1 năm 1937 tại Hội quán Kyōchō trong công viên Shiba / Ảnh không rõ tác giả · Phạm vi công cộng

Việc tôi bắt đầu cùng các phụ nữ ở Tokyo năm 1933 về sau nối vào một cơ quan của chính phủ. Việc phụ nữ ngồi vào ghế ủy viên của cơ quan đó cũng là điều quan trọng với tôi. Sau khi vào Thượng viện năm 1953, tôi vẫn xử lý cùng lúc các vấn đề của phụ nữ và cải cách chế độ bầu cử, hai thứ chưa bao giờ tách rời trong tôi.

Q6. Đến nay ở nhiều nước, tỷ lệ phụ nữ vào nghị viện vẫn thấp hơn nhiều so với tỷ lệ dân số. Bà nhìn nhận thế nào về tình trạng có quyền bầu cử mà không có người đại diện?

Khi quyền tham chính đến vào tháng 11 năm 1945, tôi đã không nghĩ ngày đó là điểm kết thúc. Quyền lợi là việc mở một cánh cửa, còn việc người ta bước vào trong cánh cửa ấy mà ngồi xuống lại là chuyện diễn ra riêng. Bản thân tôi phải mất tám năm mới vào được bên trong cánh cửa đó.

Nếu người bỏ phiếu và người nhận phiếu không được lấp đầy bằng những gương mặt giống nhau thì các quyết định ra khỏi phòng họp cũng nghiêng về một phía. Năm 1980 tôi lên tiếng đòi chính phủ phê chuẩn Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ cũng vì lẽ đó. Một tờ văn kiện mà nhà nước đã ký không làm thay đổi ngay ngày sống của người dân. Việc thế hệ sau có thể lấy văn kiện đó làm căn cứ để chất vấn, tôi trông đợi chừng ấy.

Q7. Năm 1980 bà trúng cử với số phiếu cao nhất khu vực toàn quốc. Khi ấy bà 87 tuổi. Bà có điều gì muốn nhắn lại với những người đã bỏ lá phiếu đó?

Khi nghe tin Đế quốc Nghị hội sửa luật năm 1922, hiệp hội giải thể ngay sau đó. Chúng tôi cho rằng đã đạt mục đích thì tan ra là đúng. Và tôi lại phải gây dựng tổ chức từ đầu.

Đoàn thể có tan đi thì con người vẫn còn lại. Từ thời làm việc cùng Yamataka Shigeri đã như vậy. Bàn tay đếm phiếu hôm nay, bàn tay ghi danh sách hôm nay sẽ mở cánh cửa tiếp theo.

Bài viết này không phải là một cuộc đối thoại có thật. Đây là bài phỏng vấn giả định do Breath Journal dựng lại dựa trên cuộc đời, các trước tác và những ghi chép còn lại của Ichikawa Fusae. Câu hỏi do phóng viên đặt ra và câu trả lời được rút từ những gì bà đã viết và đã làm.

Ban biên tập · Breath.Social

Bài liên quan

댓글