브레스저널 The Breath Journal

Bài viết này được dịch tự động từ bản gốc tiếng Hàn. Đọc bản gốc tiếng Hàn

Ranh giới Yosemite bị xóa đi trên giấy

편집부·Đăng 2025-11-26 09:50 KST
John Muir (1838-1914) nói về Yosemite và việc bảo tồn thiên nhiên
John Muir (1838-1914)
John Muir (1838-1914) / Minh họa ⓒ Breath Journal

Ở bờ biển Dunbar, Scotland, có một con đường mà cậu bé ba tuổi từng nắm tay ông nội đi dạo. Cậu bé ấy lớn lên trong lúc rong ruổi khắp bờ biển và cánh đồng East Lothian, và thường bị đánh đòn dưới tay người cha coi mọi thứ cản trở việc học Kinh Thánh là chuyện vặt. Về sau ông được gọi là cha đẻ của các vườn quốc gia Mỹ.

John Muir sinh ngày 21 tháng 4 năm 1838 trong một ngôi nhà đá ba tầng ở Dunbar, là con thứ ba trong tám anh chị em. Năm mười một tuổi ông theo gia đình sang Mỹ, và với tư cách nhà tự nhiên học, nhà văn, nhà thực vật học, nhà băng hà học, những trang viết ông để lại khi đi bộ qua dãy Sierra Nevada đã được hàng triệu người đọc. Ông góp sức vào việc bảo tồn thung lũng Yosemite và Vườn quốc gia Sequoia, đồng sáng lập Sierra Club. Ông qua đời ngày 24 tháng 12 năm 1914.

Q1. Ông từng nói ký ức xa nhất của mình là buổi đi dạo cùng ông nội năm ba tuổi. Tình cảm hướng về thiên nhiên đã nảy sinh từ lúc đó phải không?

Dưới đáy ký ức của tôi trải ra buổi đi dạo ngắn ấy. Lớn thêm một chút, tôi rong ruổi suốt ngày trên bờ biển và cánh đồng East Lothian. Tôi là đứa trẻ thi xem ai biết nhiều tổ chim hơn, bắt chước những trận đánh trong các cuộc chiến giành độc lập của Scotland mà lăn lộn ngoài sân.

Thời ấy tôi thấy hứng thú với lịch sử tự nhiên, và khi đọc sách của Alexander Wilson tôi có được con mắt nhìn chim. Năm mười một tuổi tôi theo gia đình sang Mỹ, nhưng giọng nói thì vẫn nguyên như thế suốt đời. Chỉ là một đứa trẻ lớn lên ở Dunbar đã già đi trong những cánh rừng nước Mỹ.

Q2. Trong quá trình đưa Yosemite thành vườn quốc gia, ông đã đăng hai bài viết trên tạp chí. Vì sao ông rời ngọn núi và chọn mặt báo?

Ở trên núi thì dù hét to đến mấy cũng không vọng tới Washington. Tôi đã đăng trên The Century Magazine hai bài, một bài về "kho báu của Yosemite" và một bài mô tả địa hình của vườn quốc gia được đề xuất. Mục đích là làm cho người chưa từng nhìn thấy thung lũng, khi đọc bài viết ấy, cảm thấy phải bảo vệ thung lũng.

Năm 1890, Quốc hội thông qua đạo luật lập Vườn quốc gia Yosemite. Tổng thống và các nghị sĩ đọc bài viết rồi hành động, và tôi cho rằng đó là sức mạnh của bản thân thung lũng hơn là sức mạnh văn xuôi của tôi.

Cái cần giữ gìn thì phải có tên và có ranh giới. Vùng đất chưa được đặt tên thì lúc nào cũng bị tính vào một mục đích sử dụng khác.

Q3. Ông được gọi là người bảo tồn triệt để. Chủ trương chặn hoàn toàn việc con người sử dụng đã bị phê phán là cực đoan ngay từ thời đó.

Tôi đã chủ trương rằng thực vật và động vật, tất cả những gì bên trong đó phải được đặt ở nơi bàn tay con người không chạm tới. Tôi nhiều lần nghe nói như thế là thái quá, và tôi sẽ không nói rằng lời đó hoàn toàn sai. Với những người sống nhờ đất đai, chủ trương của tôi hẳn nghe như tiếng nói cắt đứt kế sinh nhai.

Dù vậy, cái đẩy tôi đi xa đến thế là kinh nghiệm thương lượng. Thỏa thuận kiểu chỉ mở ra một chút chưa bao giờ dừng lại ở một chút. Nhường đi một nửa thì thế hệ sau lại nhường tiếp một nửa.

Cách nghĩ của tôi còn lại như nguyên tắc quản lý vườn quốc gia, và việc săn bắn bị cấm ở hầu hết các vườn lớn. Những loài đứng trước nguy cơ tuyệt chủng nhờ đó có thể ở nguyên trong hệ sinh thái mà chúng vốn sống. Tôi cho rằng tôi thái quá đến đâu thì cũng có những thứ được giữ lại đến đó.

Q4. Cha ông coi mọi thứ cản trở việc học Kinh Thánh là chuyện vặt và thường xuyên đánh đòn. Ông đã thoát ra khỏi sự nghiêm khắc đó bằng cách nào?

Tôi là đứa trẻ không chịu ngồi yên nên chuyện bị đánh cũng nhiều. Việc rong ruổi trên bờ biển và cánh đồng Dunbar cũng là cách tạm thời ra khỏi ngôi nhà ấy. Mở cửa bước ra là có một thế giới không ai quở trách tôi.

Tôi sẽ không nói rằng mình đã vứt bỏ đức tin. Giáo lý tự nó rời ra mà tôi chẳng phải đẩy đi điều gì, và cảm giác mất mát không đọng lại. Thay vào đó tôi học được cách thờ phượng ở trên núi.

Văn xuôi của Thomas Carlyle và thơ của Robert Burns đã lấp vào chỗ trống ấy. Ngay cả khi đi bộ qua những vùng hoang vu nước Mỹ, tôi luôn mang theo bên mình một tập thơ của Burns.

Q5. Trong các bài viết của ông, thiên nhiên đọc lên thấy gần với đức tin hơn là tài nguyên.

Người viết tiểu sử của tôi đã tóm lại rằng sứ mệnh của tôi nằm ở chỗ không giao trọn linh hồn người Mỹ cho chủ nghĩa vật chất. Tôi thấy cách nói đó không quá lời. Nếu bắt đầu tính thung lũng chỉ bằng giá gỗ và giá đồng cỏ, thì ngày phép tính kết thúc, thung lũng cũng kết thúc.

Cảm giác con người là một với đất đai là kết quả của quan sát, không phải của sự đa cảm. Nhìn vào khoảng thời gian sông băng bào mòn đá hoa cương, ta biết được một đời người nằm ở đâu. Xã hội đánh mất cảm giác đó thì không tự giải thích được mình phải giữ gìn cái gì.

Q6. Hiện nay, năm 2025, là thời đại khí hậu và đa dạng sinh học cùng sụp đổ. Chỉ cách vạch ranh giới thôi liệu có đủ không?

Không đủ. Mối đe dọa thời tôi hiện ra trước mắt như lưỡi cưa và đàn bò, dựng hàng rào lên là chặn được. Mối đe dọa bây giờ vượt qua hàng rào mà vào. Dù ở trong ranh giới vườn quốc gia, nhiệt độ tăng lên thì cây bên trong vẫn chết.

Nhưng điều đó không có nghĩa là ranh giới đã thành vô dụng. Vùng đất được bảo vệ là mảnh cuối cùng để các loài lùi về, và không có mảnh đất ấy thì căn cứ để nói về phục hồi cũng biến mất. Việc giữ gìn bên trong ranh giới và việc giảm phát thải bên ngoài ranh giới là một công việc.

Tôi sẽ nói rằng hãy cảnh giác như nhau với lời bảo mọi chuyện đã hết và lời bảo sửa được chút ít là đủ rồi. Cả hai đều khiến con người không nhúc nhích được.

Q7. Nếu chỉ để lại một điều cho người đang đọc bài này?

Cuối tuần này hãy thử đi bộ ra ngọn núi hay con sông gần nhà. Chỉ cần mang về một cái cây, một con chim mà mình biết tên. Biết tên có nghĩa là đã bắt đầu giữ gìn.

Năm 1893, khi trở về Dunbar gặp lại người bạn cũ, bờ biển trong ký ức vẫn y nguyên. Vì đã có ai đó giữ gìn bờ biển ấy. Một cái cây mà các bạn đặt tên hôm nay sẽ giữ nguyên ký ức của một ai đó sau một trăm năm.

Bài viết này không phải một cuộc đối thoại có thật. Đây là bài phỏng vấn giả tưởng do Breath Journal dựng lại dựa trên cuộc đời, trước tác và những ghi chép còn lại của John Muir. Câu hỏi do phóng viên đặt ra, câu trả lời được rút từ những trang viết và hành trạng ông để lại.

Ban biên tập · Breath.Earth

Bài liên quan

댓글