
Vào ngày chương trình kết thúc, một người trẻ cầm giấy chứng nhận hoàn thành trên tay hỏi nhân viên tư vấn rằng tuần sau có được đến đây nữa không. Số buổi đã định đã hết nên câu trả lời phần lớn là không. Từ tuần sau đó, anh lại một mình.
Các chương trình hỗ trợ những người trẻ từng trải qua tình trạng cô lập, ẩn dật đã được vận hành ở nhiều địa phương. Và tỷ lệ quay lại tình trạng cô lập sau khi kết thúc chương trình đó được ghi nhận là 58,8%. Nghĩa là gần sáu trong mười người đã trở về nơi vốn có khi sự hỗ trợ bị cắt.
Có nên đọc tỷ lệ này là một thất bại không. Đọc như vậy thì chính xác hơn. Bên thất bại không phải là những người trẻ. Cách định nghĩa thành công đã thất bại.
Thành quả của các chương trình hỗ trợ thanh niên đang trải qua tình trạng cô lập phần lớn được tổng hợp bằng tỷ lệ có việc làm và tỷ lệ hoàn thành. Có việc làm là thành công, không có là chưa đạt. Trong cách tính này, những thay đổi như "lần đầu tiên sau một tháng đã ra cửa hàng tiện lợi" hay "lần thứ hai đã mở lời trong buổi gặp mặt" không có ô nào để ghi lại. Không có ô thì không có ngân sách, và không có ngân sách thì hoạt động đó biến mất khỏi kế hoạch chương trình của năm sau.
Lập luận ngược lại không hề dễ bác bỏ. Tỷ lệ có việc làm dễ đếm, có thể so sánh, và thuận tiện để giải thích như căn cứ cho khoản thuế đã chi. Câu phản bác rằng lấy gì để chứng minh quan hệ đã được phục hồi cũng chính đáng. Trong các chương trình sử dụng nguồn lực công, khả năng đo lường là trách nhiệm tối thiểu chứ không phải điều xa xỉ.
Dù vậy, phía giữ nguyên chỉ số duy nhất là tỷ lệ có việc làm mới là lựa chọn đắt đỏ hơn. Nếu hơn một nửa số người quay trở lại, chương trình đó mỗi năm lại tìm ra cùng những con người ấy, lại tư vấn ban đầu, lại bắt đầu từ đầu. Bảng thành tích không đếm sự hồi phục sẽ tiếp tục cho qua những chương trình không tạo ra được sự hồi phục.
Cũng không phải là không có công cụ đo mức độ phục hồi quan hệ. Có những thứ có thể đếm được như số lần tiếp xúc trực tiếp trong tuần, thời gian tham gia liên tục vào nhóm tự lực, việc có duy trì liên lạc sau khi kết thúc 6 tháng, 12 tháng hay không. Đây không phải chuyện xóa bỏ tỷ lệ có việc làm. Đây là chuyện đặt thêm một ô nữa bên cạnh nó.
Khi người trẻ nhận giấy chứng nhận hoàn thành hỏi tuần sau có được đến nữa không, đáng để theo dõi xem có tăng thêm được lấy một chương trình mà nhân viên tư vấn có thể trả lời là được hay không. Một bảng thành tích hỏi rằng một năm sau người đó có còn kết nối với ai đó hay không, thay cho việc có việc làm tại thời điểm kết thúc. Ngay khoảnh khắc ô đó ra đời, ngân sách sẽ gắn vào việc mở cửa.
