브레스저널 The Breath Journal

Bài viết này được dịch tự động từ bản gốc tiếng Hàn. Đọc bản gốc tiếng Hàn

Cải tổ K-Taxonomy và mở rộng tín dụng xanh, lãi suất của doanh nghiệp vừa và nhỏ vẫn giữ nguyên

곽동현·Đăng 2026-02-03 10:20 KST
Cải tổ taxonomy và mở rộng tín dụng xanh, chi phí huy động vốn của doanh nghiệp vừa và nhỏ là vấn đề riêng
Tiêu chuẩn phân loại đã mở rộng nhưng van về phía doanh nghiệp vừa và nhỏ vẫn chưa mở
Tiêu chuẩn phân loại đã mở rộng nhưng van về phía doanh nghiệp vừa và nhỏ vẫn chưa mở / ⓒ Breath Journal

Với chủ doanh nghiệp sản xuất vừa và nhỏ ngồi ở quầy vay vốn, khoản mục đầu tiên ngân hàng kiểm tra vẫn là tài sản bảo đảm và hạng tín nhiệm. Bản kế hoạch chuyển thiết bị sang quy trình phát thải thấp có làm thay đổi con số đầu của lãi suất hay không, khó nghe được câu trả lời chắc chắn tại quầy. Giữa văn bản công bố chính sách và hợp đồng tín dụng còn lại một đoạn chưa vượt qua được. Việc mở rộng tiêu chuẩn phân loại và việc hạ chi phí huy động vốn của doanh nghiệp vừa và nhỏ không phải là một việc giống nhau.

Cùng một ngày, ba nội dung được đưa ra cùng lúc. Đó là kế hoạch cải tổ hệ thống phân loại xanh, kế hoạch mở rộng tín dụng xanh, và câu chữ nói sẽ mở rộng đối tượng đó sang doanh nghiệp vừa và nhỏ. Cả ba đều chia sẻ mục tiêu thay đổi dòng chảy của vốn. Việc chia sẻ mục tiêu không chứng minh được kết quả.

Hệ thống phân loại là công cụ định nghĩa cái gì là xanh. Định nghĩa là điều kiện tiền đề của việc phân bổ vốn, chứ không trở thành bản thân việc phân bổ vốn. Tiêu chuẩn mở rộng thì phạm vi các dự án được đánh giá đủ điều kiện lớn hơn, và dư nợ được thống kê là xanh trên giấy tờ cũng lớn theo. Dư nợ tăng lên và lãi suất mà người vay phải gánh giảm xuống là hai chỉ số khác nhau.

Hình thức của chỉ số cần cho việc kiểm chứng không khó. Đó là trước và sau cải tổ, lãi suất cho vay mà doanh nghiệp vừa và nhỏ cùng hạng tín nhiệm nhận được với cùng điều kiện kỳ hạn đã dịch chuyển bao nhiêu bp, thay đổi đó có tách khỏi xu hướng lãi suất cơ bản hay không, tỷ lệ phê duyệt và thời gian cho đến khi giải ngân đã khác đi thế nào. Mức tăng giảm không kèm đối tượng so sánh không nói lên ý nghĩa của việc lên xuống. Cái được công bố hiện nay chủ yếu là số tiền mục tiêu và phạm vi đối tượng, còn chỉ số giá theo từng người vay thì chưa được công bố.

Lập luận phản bác rõ ràng và nặng ký. Không có tiêu chuẩn phân loại thì tổ chức tài chính không xác định được sẽ tính cái gì là xanh, và không tính được thì cũng không tạo ra được sản phẩm. Cũng phải thừa nhận rằng thực tế đã có những nước mà sản phẩm liên quan và dư nợ tăng lên sau khi tiêu chuẩn được kiện toàn. Vì chế độ vận hành với độ trễ từ khâu thiết kế đến khâu thực thi, cũng có thể có phản bác rằng đòi hỏi hiệu quả về giá ngay sau khi công bố là vội vàng.

Dù vậy, lập luận về độ trễ phải kèm điều kiện. Muốn thừa nhận độ trễ thì phải trình bày kèm theo việc đến khi nào sẽ đo cái gì. Độ trễ không có thời điểm đo và chỉ số đo sẽ hoạt động như công cụ trì hoãn vô thời hạn việc kiểm chứng. Cái được ghi vào sổ sách của doanh nghiệp vừa và nhỏ là khoản lãi ra đi hằng tháng, thứ không có số tiền mục tiêu.

Đầu tư chuyển đổi của doanh nghiệp vừa và nhỏ có thời gian thu hồi dài và tài sản để thế chấp mỏng. Trong điều kiện như vậy, nếu chi phí huy động vốn vẫn giữ nguyên thì dù tiêu chuẩn phân loại có tinh vi đến đâu, thiết bị cũng không được thay thế. Cũng phải xem xét cùng với đó khả năng nguồn vốn được phân loại là xanh dồn về phía các doanh nghiệp có mức tín nhiệm cao. Việc nơi chính sách nhắm tới và nơi dòng vốn đến có lệch nhau hay không sẽ quyết định thành bại của cuộc cải tổ.

Các chỉ số cần theo dõi được rút gọn thành ba. Thay cho dư nợ cho vay xanh là lãi suất mà người vay là doanh nghiệp vừa và nhỏ thực tế đã gánh, tỷ lệ phê duyệt so với số đơn đăng ký, và thống kê chia hai chỉ số đó theo quy mô doanh nghiệp. Trước khi ba con số này xuất hiện, hiệu quả của cuộc cải tổ sẽ chỉ được nói bằng quy mô của kế hoạch. Quy mô của kế hoạch khác với quy mô của thành quả.

Phóng viên Kwak Dong-hyun · Breath.Econ

Bài liên quan

댓글